*********************************************
Hôm nay đã gần cuối năm 2025, chỉ còn vài tuần nữa chúng ta sẽ đến Noel và rồi là Tết dương lịch 2026, chào tạm biệt cái năm thanh lọc 2025 đầy biến động thị phi này. Nhân tiện, chương trình Page sẽ tạm gác tiết mục “Bạn dám hỏi thì ad dám trả lời”, chúng ta sẽ bước qua tiết mục “Kể chuyện tâm linh”. Câu chuyện kể về người xưa ở chốn Sài Gòn hoa lệ cũ, tuy bóng người đã khuất hơn mấy chục năm nay, nhưng mỗi khi nhắc lại vẫn là đề tài nóng hổi bồi hồi.
Đó là câu chuyện về đại gia Tăng Minh Phụng, từng nổi tiếng với vụ đại án EPCO – Minh Phụng năm 2003. Tất nhiên, xưa nay đọc qua báo chí và truyền thông, có lẽ dư luận chỉ biết đến hình ảnh ông Tăng Minh Phụng qua lăng kính của kinh tế, an ninh và chính trị. Nhưng hôm nay, chúng ta đọc và kể lại cuộc đời ông qua một lăng kính mới… TÂM LINH.
Niềm cảm hứng để loạt bài viết “Huyền thoại về đại gia Tăng Minh Phụng” được đăng đến với mọi người, đó là từ một lời hứa của anh Sang (một thành viên Page) mắc nợ một người anh. Khi người anh này kể lại câu chuyện, anh ta có nói với Sang:
- Sau khi đại gia Tăng Minh Phụng bị xử bắn, thi thể tử tù thường được liệm đơn giản, chôn tại trường bắn Long Bình trong một thời gian trước khi cho gia đình bốc mộ. Hiện nay thì mộ của ông được di dời an táng tại một ngôi chùa ở Bà Rịa – Vũng Tàu.
Người anh đó nhắc đi nhắc lại, nhiều lần rủ Sang đi lên nơi này để tham quan, hỏi thăm những người xung quanh về lai lịch của vị đại gia người Hoa quá cố này, tự khắc sẽ hiểu được nhiều điều ngọn nguồn. Cuối cùng, theo lời khích lệ, Sang đã thử một phen đến nơi đó xem thử. Và khi anh bạn thành viên của Page đến đó, anh kể lại rằng:
- Đi xe 7 chỗ thì buổi trưa lên Núi Dinh, Bà Rịa, trên núi này thì có chùa Thiền tôn Phật Quang của nhà sư Thích Chân Quang gây “nổi đình nổi đám” một thời. Nhưng bỏ qua đi, lại đi đến một ngôi chùa khác, đó là chùa Tây Phương. Đi vào phía hậu viên chùa thì sẽ đến khu mộ phần có mộ của Tăng gia. Đây là một khu mộ tập thể, xung quanh có khá nhiều những ngôi mộ khác, và mộ phần của Tăng gia cũng trông bình thường nằm lặng lẽ yên tĩnh ở đó thôi. Khi đến gần đã nhìn thấy trước mộ của vị đại gia có tấm bia nhỏ đề rằng: Tăng Minh Phụng, pháp danh: Minh Lưu. Pháp hiệu: Ông Táo. Có bài thơ đề rằng: “Tăng ơi! Minh ơi! Phụng ơi! Đời đâu phải cõi vô thường, Xoay mặt lại, Lưu gương Thiên Cổ. Thầy Mẹ ơi! Chúng con sám hối, Lỗi lầm này. Ôi! Tiếng Thét giữa hư không, Hừng hực Trời Nam. Anh về với Mẹ, Chốn Non Bồng rực rỡ ngát hương Sen. Xoay mặt lại, Nhận ra người bạn cũ, Tự lâu rồi, Ta ôm mộng trần thương. Vầng trăng xưa, Khuất lấp bởi vô thường. Xoay mặt lại, bến xưa đò Long Kiểng, Ánh trăng rằm soi bóng Mẹ chờ con”.
Dĩ nhiên, khi Sang kể lại cho chúng tôi về chi tiết này, ngay lập tức, chúng tôi đặt câu hỏi với anh: Tại sao lại lấy pháp hiệu Ông Táo? Trong Phật giáo chính thống, không bao giờ có pháp hiệu là “Ông Táo”. Pháp hiệu thường là từ Hán-Việt trang trọng (như Chân Không, Thanh Từ...). Và qua dò hỏi của Sang với những người ở xung quanh gần đó, Sang đã thực hiện phương pháp Dân tộc ký, ghi lại những lời kể của cư dân, quý sư thầy ở quanh Núi Dinh. Từ đó, anh đã cung cấp cho team tư liệu thô quý giá về huyền thoại và câu chuyện tâm linh liên quan đến nhân vật Tăng Minh Phụng được lưu truyền trong dân gian. Sau khi từ Bà Rịa trở về Sài Gòn, kể lại “chiến tích dữ liệu” của mình, người anh kia vỗ đùi đen đét và nói với Sang:
- Hay, chuyện hay đó, chú em thấy anh nói đúng không? Ngày xưa gia đình anh cũng mắc nợ chịu ơn ông Tăng Minh Phụng, đó giờ anh vẫn muốn tìm ai kể lại chuyện đời ông, nhưng mà chuyện tâm linh thì khó nói. Một phần vì đó là vấn đề kín đáo tế nhị, ít ai đem ra bàn, nhất là với người khuất bóng sa cơ lỡ vận. Anh thường sưu tầm báo chí, tờ san đọc lại về vụ ông Bảy Phụng, lấy đó làm gương. Anh thấy nhóm chú em đăng bài lên kênh rất là hay, hơn nữa tụi em có cái sự “trung dung” mà ít ai có được: thứ nhứt là giới tâm linh ở xứ này thường là thiếu trình độ, nói chuyện lùng khùng, đầu óc man man, kể ra chỉ tổ làm người ta chửi thêm; thứ hai là giới khoa học truyền thông thì viết toàn lý trí, đọc nó vô thần quá hóa ra vô hồn. Chỉ có nhóm tụi em kết hợp cả hai, chắc chắn câu chuyện sẽ có sắc màu mới và sinh động.
Thực ra, chúng tôi rất muốn trích dẫn lại nguyên văn những lời mà người dân địa phương kể lại cho bạn đọc, vì nghe sẽ mang tính nguyên sơ, mộc mạc hơn nhiều, sau đó chúng tôi mới đưa ra phân tích và tổng hợp của riêng kênh. Nhưng thật đáng tiếc, khi xem lại kỹ tư liệu của admin Sang cung cấp, có thể thấy hầu hết mọi người đều kể lại theo lối tản mạn, rời rạc, thiếu nhất quán, thậm chí đang kể chuyện này thì xọ qua chuyện khác, và mọi thứ rối rắm như mớ bòng bong. Bất đắc dĩ, chúng tôi chỉ còn cách biên tập và xâu chuỗi lại các hạt nhân hợp lý trong những lời kể đó thành một mạch chuyện có tính xuyên suốt logic hơn.
Sau khi tổng hợp tài liệu từ các nguồn báo chí, sách vở, video, cho đến tư liệu thực tế, đi dò hỏi ở cả Sài Gòn, Biên Hòa, Bà Rịa, cuối cùng cũng đúc kết thành câu chuyện hoàn chỉnh. Về pháp hiệu Ông Táo, khi Sang hỏi thăm một vị thầy sống ở chùa Tây Phương, thầy mới tiết lộ một chi tiết khá thú vị: Sở dĩ lấy pháp hiệu này, vì khi còn sinh tiền, đại gia Tăng Minh Phụng là Phật tử quy y hệ phái Liên tông Tịnh Độ Nong Bồng, và pháp hiệu này do chính TỔ SƯ của hệ phái ban cho Tăng Minh Phụng. Thế nhưng, điều đáng ngạc nhiên hơn, thời điểm ban pháp hiệu cho Tăng gia, vị Tổ sư căn bản đã viên tịch, không còn trên trần thế, cho nên đấng hiện ra với Tăng Minh Phụng thực chất là … LINH HỒN (Spirit)! Đúng vậy, theo như vị thầy kể lại, anh linh Tổ sư đã hiển linh và khải thị với Tăng Minh Phụng rằng:
- Nguyên kiếp trước con chính là Ông Táo mắc đọa trần gian, cho nên Mẹ ban danh hiệu cho con là Ông Táo, từ nay phải quy y Non Bồng, trọn đời thờ Phật kính Mẹ, làm điều nhơn nghĩa với đời thì mới trọn vẹn kiếp nhơn sanh nghen con.
Do đó, việc khắc chữ “Ông Táo” lên bia mộ là một hành động “hợp thức hóa huyền thoại” này. Như vậy, câu chuyện đã bắt đầu có mùi tâm linh, xin mời quý độc giả tò mò đi vào phần đầu nguồn cuộc đời Tăng Minh Phụng.
Tăng Minh Phụng sinh năm 1957 tại khu vực mà sau này là Quận 11, ngày xưa vẫn quen gọi là Chợ Lớn – vốn là nơi quần tụ sầm uất của người Hoa. Sinh ra một gia đình nghèo khó gốc người Tiều (Triều Châu), từ thuở nhỏ đã cật lực mưu sinh để lớn lên, Tăng Minh Phụng là người con thứ sáu trong gia đình, nên tục gọi là Bảy Phụng. Người đời sau đều biết Tăng Minh Phụng từng là đại gia kinh doanh bất động sản, và cùng lắm là biết thêm ông từng là “vua may mặc” – ông chủ của công ty Minh Phụng chuyên về hàng dệt may.
Nhưng mấy ai biết, thuở còn thanh thiếu niên, Tăng Minh Phụng làm nghề gì? Mới 18 tuổi đã chứng kiến cuộc “Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”, và sau đó là bước vào thời kỳ Bao cấp, thời đó chưa có làm ăn kinh tế tư nhân, làm sao một cậu thanh thiếu niên có thể làm may mặc được? Dĩ nhiên, giai đoạn sau 1975, Tăng Minh Phụng khởi đầu nghề mưu sinh bằng công việc chuyên chở hàng hóa, bán cao su, đế giày, dép nhựa, dép lốp. Tại sao? Quận 11 (khu Lạc Long Quân, Bình Thới) là thủ phủ của các lò sản xuất nhựa/cao su quy mô hộ gia đình của người Hoa thời bấy giờ. Bảy Phụng chuyên làm nghề bỏ mối, sau này anh chàng sắm được chiếc xe lôi, buổi tối thì ở nhà cặm cụi làm cao su giày dép, ban ngày tờ mờ sáng thì luôn có mặt trên các con đường Lạc Long Quân, Bình Thới, 3 tháng 2… để đi bỏ mối hàng tự sản xuất.
Vào đầu thập niên 1980, báo chí Hoa ngữ (từ Hồng Kông) bắt đầu len lỏi vào Chợ Lớn. Lý Gia Thành lúc đó đã là tượng đài của giới kinh doanh. Hồi đó, trong cái nóng hầm hập của một nền kinh tế bao cấp đang chuyển mình đau đớn, chàng trai Bảy Phụng người gốc Tiều mỗi sáng lái xe lôi đi giao hàng đều sẽ ghé ngang sạp báo để mua cho được những tờ báo chí kinh tế nói về sự “hóa rồng” của Hồng Kông cùng với gương mặt nổi lên như cồn của tỷ phú Lý Gia Thành, vốn đi lên từ nghề hoa nhựa. Tăng Minh Phụng ngồi đọc say sưa những tin báo, rồi mua tạp chí doanh nhân đọc về con đường khởi nghiệp của Lý, đến nỗi vì thường hay đậu xe trái phép, vừa chạy xe vừa đọc báo dẫn đến mất tay lái hay lạc đèn đỏ, anh chàng Bảy Phụng này thường hay bị một cô cảnh sát giao thông đứng ở ngã tư giao lộ Bình Thới biên phạt xử lý vì đi sai quy định. Bảy Phụng cười hề hề, lắc đầu nói với bạn:
- Cô công an nhìn xinh mà dữ quá mày, đúng là bông hồng nào cũng có gai.
Người bạn ông nói:
- Chế đi sáng sớm thì nên cẩn thận, gặp “bà chằn lửa” này nghiêm lắm, đi lạng quạng là bả không tha cho đâu. Quanh đây ai cũng biết cô Sương đây không vừa đâu, nhất là mấy cha cà chớn chạy đường ẩu tả đó.
Rồi có hôm, hai người lại có cơ duyên đụng độ tiếp.
- Anh Bảy, lại chở hàng cồng kềnh. Giấy tờ đâu? - Giọng cô lạnh tanh.
- Cô Sương ơi, tha cho tui đi. Chuyến này tui dồn hết vốn liếng rồi, chưa bán được đồng nào... - Bảy Phụng năn nỉ, tay quệt mồ hôi muối.
- Luật là luật. Phạt!
Tờ biên bản xé ra như xé toạc ruột gan Bảy Phụng. Hôm đó, anh mất một phần ba vốn liếng chỉ để nộp phạt. Nhưng ánh mắt của Bảy Phụng nhìn cô Sương không có hận thù, mà có sự Cam chịu của số phận. Anh hiểu, cô đang làm nhiệm vụ của một người làm công lực, còn anh là hạt cát đang cố luồn lách sống qua ngày. Ấy vậy mà Bảy Phụng vẫn lạc quan, nói với bạn:
- Lý Gia Thành khởi nghiệp từ hoa nhựa mà làm giàu. Tao làm giày dép nhựa cao su, cũng sinh ra nghèo như ổng khác gì, nhưng sau này tao sẽ làm giàu ngang ổng cho coi. Ông này làm ăn đáng nể, đất Hồng Kông chật như zậy mà ổng phất lên từ sản xuất rồi mua đất đầu cơ, sau này ngộ mà có tiền thì cũng lao vô đầu tư đất, có đất là có vàng.
Bạn bè, người thân xung quanh, trong cộng đồng người Hoa ấy, dẫu quý Phụng là người thông minh, tháo vát, dễ mến, nhưng mà suốt ngày cứ tự hợm mình là Lý Gia Thành mãi, người ta bật cười ngao ngán, gọi anh là “thằng Bảy Khùng”. Ai cũng bật cười nói:
- Mày mặc có cái quần xà lõn, đáy thủng quần rách lỗ chỗ còn chưa có tiền vá, ở đó mà mộng đòi tỷ phú cái gì, tào lao quá chèn ơi.
Phải biết trong cái thời bao cấp đó, đủ ăn là mừng lắm rồi chứ mơ gì làm giàu. Một người bình dân, không có ô dù, không có lý lịch tốt, lại là người Hoa, sống dễ thở đã là mừng, lấy gì mà ôm mộng đòi giàu sang phú quý, quả là tư tưởng “dị thường”. Vậy mà không ai ngờ “thằng khùng” đó sau này làm thật, và hắn giàu đến mức không ai sống ở thập niên 80 nghĩ rằng hắn làm được!!!
Bảy Khùng cũng không màng việc cứ hay bị cô cảnh sát tuýt còi, cười sằng sặc nói với anh em:
- Mai mốt ngộ làm tỷ phú, tha hồ cho cô nương đó biên phạt thoải mái, ngộ sẽ không thiếu tiền nộp phạt!
Anh em đều bật cười, nói Khùng có gì mà đòi ra tiền. Bảy Phụng liếc mắt nói:
- Bí mật, mai ngộ đi qua bến đò Long Kiểng, đổi đời hay không là do nó.
Té ra, đò Long Kiểng nằm trên đường Lê Văn Lương, thuộc xã Phước Kiển, huyện Nhà Bè, TP.HCM. Trước khi có cầu Long Kiểng (mới xây gần đây), đây là một bến đò ngang cách trở, vùng đất phèn mặn, nghèo khó, tập trung nhiều dân lao động nhập cư và người nghèo thành thị dạt về. Long Kiểng là cửa ngõ thương mại sông nước để phân phối hàng hóa rẻ tiền về miền Tây. Dân miền Tây đi ghe lên Nhà Bè để lấy hàng. Món hàng Bảy Phụng bán (dép nhựa, dép cao su) là nhu yếu phẩm cho nông dân miền Tây thời bao cấp. Phụng đã chở hàng xe lôi đến đây bán mấy bận, đều có chút vốn, hôm nay lại được tin báo phải chở hàng gấp đôi gấp ba, tin chắc mình sẽ có thêm vốn liếng mở cơ sở làm ăn lớn hơn, làm cho lòng Bảy Phụng hí ha hí hửng. Bảy Phụng đạp như điên về hướng Nhà Bè. Bến đò Long Kiểng hiện ra trong ráng chiều đỏ quạch, nước sông đục ngầu cuộn chảy. Đây là vùng trũng, nơi tụ tập đủ hạng người “tứ chiếng giang hồ” dạt về.
Bảy Phụng vui vẻ giao lô hàng dép nhựa cho một tay trùm thu mua tại bến.
- Chú mày cứ để hàng đó, vào uống ly nước, anh đếm tiền.
Bảy Phụng, với sự ngây thơ của một kẻ mới khởi nghiệp, tin vào cái “tình” của dân sông nước. Anh uống cạn ly trà đá, mơ về viễn cảnh cầm cục tiền về mua thêm máy ép nhựa. Nhưng 15 phút trôi qua. Rồi 30 phút. Anh chạy ra bến. Trống trơn. Gã trùm đã biến mất. Lô hàng dép nhựa cũng bốc hơi theo con đò vừa rời bến. Những người dân quanh đó nhìn anh với ánh mắt thương hại pha chút dửng dưng:
- Thằng đó lừa đảo nổi tiếng ở đây, mày người lạ sao dám tin nó?
Bảy Phụng đứng chết lặng. Mất trắng. Toàn bộ vốn liếng tích cóp từ việc lượm lặt phế liệu, vay mượn anh em, giờ tan thành bọt nước sông Nhà Bè. Anh gục xuống, không khóc nổi. Cái nghèo, cái đói và nợ nần ập đến như cơn thủy triều đen ngòm.
Hoàng hôn buông xuống. Bảy Phụng lái chiếc xe lôi rỗng tuếch quay về Quận 11. Người anh rã rời, hồn anh treo ngược cành cây. Đến ngã tư quen thuộc, tiếng còi Tuýt! lại vang lên. Lại là cô Sương.
- Anh chạy xe xiêu vẹo quá, tính gây tai nạn hả? Dừng lại!
Bảy Phụng xuống xe, người run bần bật.
- Cô ơi... tui hết tiền nộp phạt rồi. Tui mới bị lừa hết sạch dưới Long Kiểng rồi... - Giọng anh vỡ vụn.
Cô Sương nhìn gã đàn ông lấm lem, đôi mắt đỏ ngầu tuyệt vọng. Nhưng luật pháp không có chỗ cho nước mắt.
- Xe không đèn, chở hàng cồng kềnh, người không tỉnh táo. Theo quy định, tôi phải tịch thu phương tiện.
Câu nói đó như nhát dao cuối cùng. Tịch thu xe lôi là chặt đứt “cần câu cơm” duy nhất. Bảy Phụng quỳ sụp xuống ngay giữa ngã tư. Anh không van xin cô Sương nữa, anh gào lên với trời cao: “Ông Trời ơi! Sao ông triệt đường sống của con? Con làm ăn lương thiện mà sao khổ thế này?”
Tiếng thét của Bảy Phụng khiến cô Sương sững lại. Lần đầu tiên, dưới lớp áo cảnh phục cứng nhắc, trái tim người phụ nữ rung động trước nỗi đau trần trụi của một người đàn ông cùng đường. Cô không lập biên bản tịch thu. Cô quay mặt đi:
- Thôi đi đi. Lần sau đừng để tôi thấy nữa.
Quả là một người phụ nữ có nguyên tắc với đạo đức công vụ, song cũng giàu lòng trắc ẩn. Bảy Phụng lết về nhà, nhưng trong đầu anh, lý trí đã sụp đổ hoàn toàn. Làm ăn chân chính bị lừa, chạy xe bị phạt. Con đường của người thường đã cụt. Anh cần một phép màu. Đang đăm chiêu suy nghĩ thì đi lạc vào một hàng bán nước sâm ven đường. Một thằng bạn người Hoa trông thấy, quắc tay lại kêu:
- Ê Bảy Khùng, lại đây uống với ngộ ly sâm coi, làm gì mặt mày bí xị zậy cha.
Thấy Bảy tuyệt vọng, người bạn ghé tai thì thầm:
- Ngộ nghe nói ở Biên Hòa, trên Quan Âm Tu Viện, có Mẫu Trầu linh thiêng lắm. Ngài là Hòa thượng nhưng hiện thân Bồ-tát, mới viên tịch năm ngoái. Ai đến cầu, nếu thành tâm, Ngài sẽ cứu. Ngộ tính lên đó cầu tài, năm nay làm ăn xui quá. Hay nị muốn đi chung heng?
Bảy Phụng bật cười nói:
- Khùng như ngộ mà trời cũng dồn vô cùng đường rồi, còn gì để mất đâu! Đi!
Ngay trong đêm đó, hai kẻ đường cùng của xã hội mon men không ngủ, đi về đất Biên Hòa. Đó là cái đêm định mệnh đầu năm 1987, lúc này Bảy Phụng cũng không còn trẻ nữa, anh đã 30 tuổi rồi. Cái tuổi mà ngày xưa thánh nhân phải dặn là: “Tam thập nhi lập”, vậy mà giờ đây tuổi 30 anh vẫn chưa tạo lập nổi cơ đồ, lại còn bị lừa trắng tay.
Theo giai thoại truyền miệng, câu chuyện ly kỳ diễn ra như sau:
Quan Âm Tu Viện. Khói hương nghi ngút. Bảy Phụng không có tiền mua lễ vật cao sang. Anh chỉ có tấm thân tàn và một trái tim rực lửa khát vọng. Nghe nói Mẫu Trầu ở đây thiêng lắm, nhưng Mẫu Trầu này rốt cuộc là ai? Đó là Hòa thượng Thích Thiện Phước (1924–1986), Tổ sư khai sơn Liên tông Tịnh Độ Non Bồng (Quan Âm Tu Viện, Biên Hòa). Nghe tiếng đồn lúc sinh tiền, Hòa thượng tuy là nam giới (về mặt sinh học), nhưng giọng nói, cử chỉ, và phong thái lại y hệt phụ nữ, đặc biệt là hình ảnh các bà má Nam Bộ (nhai trầu, mặc áo bà ba, quấn khăn rằn hoặc khăn lụa). Trong tín ngưỡng Nam Bộ, đây được gọi là “Xác Cô/Cốt Bà” hoặc hiện tượng “Chuyển Thân”. Người dân tin rằng: Ngài là hóa thân của Đức Quan Thế Âm (Vốn xuất thân là nam nhưng hiện tướng nữ để cứu khổ). Hoặc ngài là cốt của Diêu Trì Kim Mẫu (Mẹ Sanh) giáng trần. Vào thời chiến tranh, ngài Thích Thiện Phước đã biến nơi đây thành chốn “phổ độ”, chẩn tế người nghèo, nuôi dạy trẻ cô nhi lưu lạc, tiếng đồn là Bồ-tát giữa thời loạn lạc, cứu giúp cho bách gia vạn hộ đang gặp cảnh nguy khốn giữa cơn binh hỏa. Sau này khi đất nước trở lại cảnh thái bình, ngài Thích Thiện Phước cũng được vinh danh là người từng có công cống hiến cho hoạt động cách mạng. Để gần gũi với dân gian, vừa chăm sóc cho trẻ thơ, vừa trông nom cho những người phụ nữ cơ nhỡ, Hòa thượng thường tự xưng mình là Mẹ, Má, mặc đồ bà ba, nhai trầu, thế nên mọi người xung quanh đều gọi là Mẹ Trầu. Đến năm 1986 thì Hòa thượng viên tịch, hay Mẫu Trầu hóa thăng. Ngay từ khi còn tại thế, Mẫu Trầu đã rất nổi tiếng đức hạnh, lại nghe nói có nhiều phép linh dị, có hộ pháp thần bảo trợ, nên hệ phái Non Bồng được sự quy ngưỡng của rất nhiều bà con, tiếng lành đồn xa. Hồi thập niên 80-90, kinh tế thị trường sơ khai đầy rủi ro pháp lý và xã hội. Doanh nhân đi trên dây, có thể ngã ngựa bất cứ lúc nào. Họ không cần một vị thiền sư bảo họ “Đời là bể khổ, hãy buông bỏ tiền bạc”. Họ cần một vị Thánh Mẫu bảo họ: “Con cứ làm giàu đi, Mẹ sẽ độ cho con an toàn, miễn là con biết chia sẻ (cúng dường)”.
Thành thử, Bảy Phụng nghe lời bạn kể, cũng muốn lên đây cầu may thử vận, nhưng trong lòng anh lúc này chí thành tha thiết, bởi cú lừa vừa rồi đã làm anh điêu đứng, không còn gì để mất nữa.
Anh quỳ trước ban thờ Mẫu Trầu. 1 ngày... 2 ngày... 3 ngày... Đầu gối anh trầy xước, máu rỉ ra thấm ướt ống quần xà lõn. Anh không ăn, chỉ uống nước cầm hơi. Miệng lầm rầm khấn vái:
- Mẫu ơi, con khổ quá. Xin Mẫu cho con con đường sống. Con hứa làm trâu làm ngựa trả nợ đời.
Đến đêm thứ 4. Bảy Phụng kiệt sức, ngất lịm đi dưới chân tượng. Trong cơn mê sảng, giữa ranh giới thực và ảo, anh thấy một luồng sáng xanh tỏa ra. Một người mặc áo bà ba, miệng nhai trầu, tay cầm quạt mo hiện ra, nhìn anh vừa nghiêm khắc vừa từ bi.
- Tăng Minh Phụng! - Tiếng nói vang lên như chuông đồng. Bảy Phụng ngoái đầu lên nhìn, dụi mắt vì không nhìn rõ nhân dạng người đối diện.
- Mẹ biết con là ai? Mẹ biết con lên đây cầu Mẹ cho con cái ngân tiền lấy lộc làm ăn, đặng mai này giàu sang với thiên hạ. Nhưng mạng con không nên giàu, nếu giàu sẽ rước tai họa, Mẹ không độ con được, thôi con về đi!
Bảy Phụng nghe thế thì la lên, đứng phắt dậy van xin Mẹ đoái thương, nhưng vừa mới đó đã thấy nhân dạng tan biến như lớp màn sương. Nhưng lòng anh đã quyết, chai sần như sắt đá, anh lại tiếp tục quỳ và nói:
- Con chẳng còn gì để mất nữa rồi, Mẹ thương Mẹ cứu đời con. Con từ nhỏ đến lớn chịu thấu cảnh nghèo không thể tả nổi, không lẽ Mẹ nhơn từ mà trơ mắt nhìn con nhỏ thua đau với đời ra thế sao? Mẹ ơi xin cảm lòng con, con chí thành chí thiết, con lạy van Mẹ cho con đổi đời lấy tài lộc công danh, nếu không thì con chẳng thiết sống nữa. Chỉ cần con đổi đời hanh thông, Mẹ muốn con làm gì con cũng làm. Con sẽ quy y chân Mẹ, làm đệ tử Non Bồng, đem hết tiền của giúp cho chùa chiền của Mẹ lan tỏa khắp nơi. Mẹ ơi Mẹ đoái nghĩ cho con, con tuy là thân nam nhưng lòng con cũng có sự yếu mềm, chua chát phận đời, con khóc muốn chảy máu mắt mà Mẹ không hữu tình động lòng thương con sao?
Cứ như vậy, Bảy Phụng lại quỳ trước bảo tháp thờ Hòa thượng, gục mặt cúi đầu mong Mẫu hiển linh lần nữa. Đến đêm thứ 7, chỉ còn một hai giờ nữa là bước sang ngày mới. Bảy Phụng mệt mỏi rã rời, người ta đến đỡ anh dậy muốn anh vào nghỉ, uống chút nước, ăn chút cơm chay, nhưng Phụng gạt phắt đi, nói với mọi người:
- Mẹ không hiện ra thương ngộ thì ngộ không đứng dậy đâu, ngộ mất hết rồi, không tiếc gì cái mạng này nữa. Hôm nay không gặp được Mẹ thì ngộ thà đâm đầu vô bia đá chết luôn, đừng ai can ngăn ngộ, đi ra hết đi, sống nhục như vầy ngộ không cam lòng.
Đến gần nửa đêm đó, Bảy Phụng mệt lả, tựa đầu vào tấm bia gục xuống. Trong lúc mơ màng anh lại như thấy hình bóng Mẫu Trầu thấp thoáng đâu đây, chỉ nghe tiếng thở dài rồi Mẫu Trần cất tiếng nói:
- Mẹ nói cho con biết, căn số của con chẳng phải tầm thường. Con là Ông Táo mắc đọa, bị trời đày xuống trần gian chịu khổ. Số con là số Phá Quân, không giữ được tiền. Nếu con muốn giàu, con phải mượn nợ thiên hạ mà làm. Nhưng hãy nhớ kỹ lời Mẹ: Tài sản 10 phần, con phải đem 7 phần đi giúp người (cứu nhân độ thế), chỉ được giữ 3 phần. Nếu con khởi lòng tham, muốn chiếm đoạt làm của riêng, thì ngày con về với Mẹ, con cũng chỉ mặc đúng cái quần xà lõn rách nát như hôm nay thôi nghe!
Bảy Phụng khóc nấc lên trong mơ:
- Con xin thề! Con xin thề!
Mẫu mỉm cười, phẩy quạt:
- Thôi con về đi. Khoảng hai ngày sau, giờ Mão (5 giờ sáng), con hãy ra ngã tư Bình Thới, con có nhớ chỗ đó không, con hay đi xe lôi ngang đó. Quý nhân của đời con đang đợi ở đó. Người đó nắm giữ ấn kiếm giúp con mở kho tiền thiên hạ. Mẹ sẽ độ cho con nên duyên với người đó, con nhớ chưa?
- Dạ con nhớ, con nhớ rồi. - Bảy Phụng gật đầu lia lịa nói.
Bảy Phụng bừng tỉnh. Trời vừa hửng sáng. Dù thân thể đau nhức, nhưng đôi mắt anh rực sáng một niềm tin kỳ lạ. Anh rủ bạn lao xe về lại Sài Gòn.
Đúng như lời Mẫu dặn. Hai ngày sau, Bảy Phụng có mặt tại ngã tư Bình Thới. Đồng hồ chỉ đúng 5 giờ sáng (Giờ Mão).
Sài Gòn lúc này còn ngái ngủ. Màn sương sớm màu xám đục lảng bảng trôi trên mặt đường nhựa. Bảy Phụng đứng tựa lưng vào gốc cây điệp già, tim đập thình thịch như trống trận. Anh mặc chiếc áo sơ mi mới nhất (dù đã sờn cổ), tóc chải ngược, cố tạo ra vẻ ngoài của một “Lý Gia Thành” tương lai, dù trong túi anh lúc này rỗng tuếch. “Quý nhân nắm giữ ấn kiếm...” - Câu nói của Mẫu Trầu văng vẳng trong đầu anh.
Đột nhiên, từ trong màn sương, một chiếc xe Honda 67 màu đen trờ tới. Người lái xe mặc bộ cảnh phục màu vàng quen thuộc. Là cô Sương. Nhưng hôm nay, cô không đứng trên bục chỉ huy. Chiếc xe của cô chao đảo rồi chết máy ngay giữa ngã tư vắng vẻ. Cô loay hoay đạp cần khởi động, mồ hôi lấm tấm trên trán.
- Cô Sương! Xe hư hả? Để tui coi cho! – Bảy Phụng lấy làm lạ, không biết sao cô công an lại xuất hiện đúng lúc này, nhưng vẫn lao ra để xem giúp.
Cô Sương ngẩng lên, nhận ra gã “Bảy Khùng” lái xe lôi mấy bữa trước. Ánh mắt cô thoáng chút đề phòng, nhưng rồi dịu lại khi thấy vẻ chân thành (và bộ dạng chải chuốt vụng về) của anh.
- Anh biết sửa xe không đó? Hay lại phá banh xe tôi? - Cô hỏi, giọng đã bớt phần sắc lạnh.
- Tui dân chạy xe lôi mà. Cái gì tui hông biết sửa! - Bảy Phụng cười hề hề, tay chân thoăn thoắt kiểm tra bugi. Chỉ vài phút sau, tiếng máy xe nổ giòn tan.
Cô Sương nhìn anh, mỉm cười - một nụ cười hiếm hoi nở trên gương mặt vốn quen với sự nghiêm nghị. Nụ cười ấy, trong khoảnh khắc, đã làm tan chảy lớp băng giá giữa “kẻ vi phạm” và “người thi hành luật”.
- Cảm ơn anh Bảy. Sớm nay anh không đi chở hàng sao?
- Dạ không. Hôm nay tui đi... tìm vợ. - Bảy Phụng buột miệng nói, rồi mặt đỏ bừng.
Cô Sương bật cười khúc khích:
- Khùng quá cha nội! Tìm vợ giờ này ai mà bán?
Cuộc đối thoại đang vui vẻ thì bỗng dưng, không gian xung quanh như đặc quánh lại. Gió ngừng thổi. Tiếng xe cộ xa xa dường như tắt lịm.
Một bà lão bán vé số, dáng người nhỏ thó, mặc bộ bà ba nâu sờn rách, đội chiếc nón lá sụp xuống che khuất nửa khuôn mặt, lững thững đi ngang qua hai người. Bà đi rất chậm, nhưng bước chân nhẹ bẫng như không chạm đất.
Khi đi ngang qua Bảy Phụng, bà lão dừng lại. Bảy Phụng định rút túi (dù không có tiền) để mua ủng hộ, nhưng bà lão không chìa xấp vé số ra. Bà khẽ nâng vành nón lên. Trong bóng mờ dưới vành nón, Bảy Phụng không nhìn rõ mặt, chỉ thấy đôi mắt sáng quắc như sao đêm.
- Tăng Minh Phụng! - Giọng bà lão vang lên, trầm đục và uy nghi, y hệt giọng Mẫu Trầu đêm hôm trước ở Non Bồng. Bảy Phụng rùng mình, lông tóc dựng ngược. Anh đứng chết trân.
- Ta đã mượn dây tơ hồng, cột chân con với người này rồi. - Bà lão hất hàm về phía cô Sương đang lúi húi chỉnh gương xe, dường như cô Sương không hề nghe thấy giọng bà, cũng không cảm nhận được sự hiện diện kỳ dị này.
- Nữ này là chìa khóa mở kho tiền thiên hạ cho con. Hãy trân trọng người ta.
Rồi giọng bà lão đanh lại, lạnh như băng:
- Nhưng nhớ lời thề ở Non Bồng. Con chỉ là Thủ kho của Trời Phật. Con cầm tiền tỷ, nhưng tiền đó là để cứu nhân độ thế. Nếu con tham lam, muốn làm vua một cõi, thì ngã tư này chính là nơi con bắt đầu, và cũng là nơi con kết thúc. Lúc đó, đừng hỏi sao Mẹ không báo trước!
Nói xong, bà lão hạ vành nón xuống, tiếp tục bước đi, miệng rao lầm bầm: “Vé số chiều xổ đây... Giàu sang đổi vận đây...”
Bảy Phụng bàng hoàng tỉnh lại. Anh quay sang nhìn cô Sương, cô vẫn đang cười nói gì đó, hoàn toàn không biết vừa có một “cuộc giao dịch tâm linh” diễn ra ngay bên cạnh.
- Cô Sương, chờ tui xíu! - Bảy Phụng vùng chạy đuổi theo bà lão bán vé số. Bóng bà lão đã đi khuất sau ngã rẽ. Anh chạy thục mạng, đến nơi thì thấy bà đang đứng lơ ngơ ở góc đường. Bảy Phụng lao tới, nắm lấy vai bà, lay mạnh:
- Mẹ! Mẹ ơi! Con xin nghe lời! Mẹ dạy thêm cho con...
Bà lão quay lại. Chiếc nón lá rơi xuống đất. Đó là một khuôn mặt già nua, nhăn nheo, đôi mắt đục ngầu, miệng móm mém cười ngờ nghệch, nước dãi chảy ra mép. Không hề có chút thần thái uy nghi nào của Mẫu Trầu ban nãy.
- Mua vé số hông chú? Mua đi, sáng mua chiều trúng độc đắc... - Bà lão chìa xấp vé số nhàu nát ra, giọng run rẩy, phàm tục.
Bảy Phụng buông tay ra, lùi lại vài bước. Anh hiểu rồi. Mẫu Trầu đã “mượn xác” bà lão trong giây lát để truyền tin, rồi Ngài đã đi rồi. Anh đứng đó, giữa ngã tư Bình Thới, mồ hôi vã ra như tắm. Trong túi anh không có tiền mua vé số, nhưng anh biết, anh vừa trúng giải độc đắc lớn nhất cuộc đời mình. Và cái giá phải trả cho giải độc đắc đó, cũng khủng khiếp không kém.
Bảy Phụng quay lại chỗ cô Sương. Ánh mắt anh lúc này không còn là ánh mắt của gã trai si tình nữa. Đó là ánh mắt của một kẻ đã ký khế ước với Thần linh.
- Cô Sương, sáng nay tui mời cô ăn hủ tiếu gõ nha. Tui muốn kể cô nghe về giấc mơ Lý Gia Thành của tui. – Cô Sương nhìn anh, rồi gật đầu. Và thế là, bánh xe định mệnh bắt đầu lăn. Cũng chính từ người vợ hiền này – cô cảnh sát ngày nào cũng biên phạt anh, lại là người hậu phương cho sự nghiệp tuyệt đỉnh sau này của đại gia Tăng Minh Phụng.
Không rõ cô Sương rồi sẽ giúp người chồng tương lai ra sao? Và số phận Tăng Minh Phụng sẽ gặp khúc rẽ ngoạn mục như thế nào? Xem Phần 2 sẽ rõ…
Bài học cần nhắn nhủ: Người đời thường lầm tưởng “Cầu được ước thấy” là Phước đức. Sai lầm. Phước đức là thứ bạn đã tích lũy từ trước (như tiền tiết kiệm). Khi bạn cầu xin một thứ vượt quá Phước đức hiện có (như Bảy Phụng cầu làm tỷ phú khi đang chạy xe lôi), Thần linh (hoặc Thực thể siêu nhiên) sẽ cấp cho bạn một khoản Tín dụng (Credit). Đây là hành động “Mượn lộc tương lai”. Bạn lấy may mắn của 10 kiếp sau dồn vào kiếp này. Hoặc bạn lấy sức khỏe/tuổi thọ của mình ra thế chấp. Đây là một Hợp đồng phái sinh (Derivative Contract) với đòn bẩy cực cao. Tài sản thế chấp không phải sổ đỏ, mà là Sinh mệnh và Gia đạo. Lãi suất rất cao. Trong trường hợp Tăng Minh Phụng, lãi suất là 70% (làm ra 10 đồng phải trả lại đời 7 đồng). Tại sao gọi là “vay nặng lãi”? Vì “chủ nợ” (Thế lực siêu nhiên) nắm quyền định đoạt tuyệt đối. Khi “con nợ” vi phạm điều khoản, cơ chế thanh lý hợp đồng được kích hoạt ngay lập tức. Cái chết của Tăng lão gia không chỉ là án tử hình pháp lý. Đó là sự thu hồi nợ gốc lẫn lãi của vũ trụ. Ông ra đi tay trắng (quần xà lõn) vì ông đã bị “siết nợ” toàn bộ tài sản trần gian để trả cho món nợ tâm linh khổng lồ kia. Trong giai thoại kể rằng Mẫu đã cảnh báo số của Bảy Phụng là sao Phá Quân, trong Tử Vi Đẩu Số, sao Phá Quân thuộc Bắc Đẩu Tinh, hành Thủy. Nó là “Hao Tinh” (Sao hao tán) và là “Hung Tinh” (Sao dữ). Nó tượng trưng cho Tướng quân đi đầu trong trận mạc. Tăng Minh Phụng chính là hiện thân sống động nhất của Phá Quân. Phá Quân đi đến đâu, cái cũ nát tan tành đến đó. Nó đập bỏ trật tự cũ để xây dựng trật tự mới. Tăng gia đã “đập bỏ” tư duy làm ăn cò con, manh mún thời bao cấp. Ông xây dựng mô hình tập đoàn, khu công nghiệp hiện đại. Người đi tiên phong luôn là người hứng nhiều tên đạn nhất. Phá Quân không bao giờ được hưởng thụ thành quả bình yên. Nhiệm vụ của nó là khai hoang. Khai hoang xong thì nó... tử (hoặc đi chỗ khác), để lại đất đai màu mỡ cho người sau (các đại gia bất động sản hiện nay) hưởng. Người mang số Phá Quân là những Cảm tử quân của Lịch sử. Họ bắt buộc phải sai lầm, bắt buộc phải ngã ngựa, để xã hội học được bài học và tiến lên.
(Còn tiếp)…
P/s: Mong được quý follower “donate” để có thêm động lực kể chuyện!
------------------
Nguồn: ***QUYHOCFAQ***